Chuyên Môn

Chuyên môn

  • Thay “lớp trưởng” bằng “chủ tịch”: Không nhen nhóm lòng háo danh TT - Đó là ý kiến của ông Phạm Ngọc Định,
vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD-ĐT), trong trao đổi với Tuổi Trẻ.Trước nhiều ý kiến ...
    Được đăng 20:33, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện
  • Phản ứng ‘lớp trưởng’ là ‘chủ tịch’: Do người lớn áp đặt! Pháp Luật TP.HCM tiếp tục giới thiệu ý kiến của Thạc sĩ Hồ Đắc Hải Miên, ĐH Quốc gia TP.HCM, xung quanh Dự thảo Điều lệ trường tiểu ...
    Được đăng 20:32, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện
  • Học VNEN, học sinh phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì ngành giáo dục không ngừng được đổi mới và lần đổi mới này đã tìm ra một mô hình ...
    Được đăng 20:41, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện
  • Mô hình “Hội đồng tự quản” xây dựng sự tự tin vào bản thân cho học sinh GD&TĐ - Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ thành phố Lào Cai là 1 trong 1.447 trường tiểu học của cả nước tự nguyện triển khai áp dụng Mô ...
    Được đăng 20:31, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện
  • ĐÔI NÉT TỰ HÀO VỀ TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN Qua 19 năm làm nghề dạy học ở trường Tiểu học, bản thân tôi đã được tham dự học tập nhiều chuyên đề và được tiếp cận đôi lần điều ...
    Được đăng 20:30, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 9. Xem nội dung khác »

Thay “lớp trưởng” bằng “chủ tịch”: Không nhen nhóm lòng háo danh

đăng 20:33, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện

TT - Đó là ý kiến của ông Phạm Ngọc Định,
vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD-ĐT), trong trao đổi với Tuổi Trẻ.

Trước nhiều ý kiến không đồng tình việc “thay chức lớp trưởng bằng chủ tịch trong lớp tiểu học”, ông Phạm Ngọc Định cho biết:

- Trong dự thảo điều lệ trường tiểu học, Bộ GD-ĐT không quy định cứng bỏ chức lớp trưởng, lớp phó thay bằng chức chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản đối với tất cả các trường tiểu học mà cho phép các trường tham gia mô hình trường học mới.

Việc thực hiện mô hình trường học mới được triển khai trên tinh thần tự nguyện, nơi nào tự tin thì thực hiện, nơi nào chưa tự tin toàn bộ thì có thể áp dụng từng phần của mô hình, không chạy theo phong trào, không mang tính bắt buộc trên toàn quốc.

Những nơi đã thực hiện mô hình trường học mới (áp dụng hoàn toàn hoặc một phần mô hình này) thì có thể hướng dẫn học sinh bầu hội đồng tự quản với chủ tịch, các phó chủ tịch.

Ngoài ra trong lớp còn có các ban như ban học tập, ban đối ngoại, tuyên truyền, ban lễ tân, ban đời sống... tùy theo nhu cầu học tập của lớp học.

Học sinh được bầu chủ tịch, phó chủ tịch, trưởng ban không do giáo viên áp đặt mà do học sinh tự ứng cử, tập thể bình bầu luân phiên theo tháng hoặc học kỳ, năm để nhiều học sinh được tham gia hoạt động tập thể.

Thực tế đã chứng tỏ hội đồng tự quản trong lớp học như mô hình trường học mới không những không làm mất sự hồn nhiên, trong sáng mà còn khích lệ, nuôi dưỡng sự hồn nhiên, trong sáng của các em học sinh

Không quy định cứng bỏ chức lớp trưởng

* Có nhiều ý kiến cho rằng “thay lớp trưởng bằng chủ tịch” là việc không cần thiết, làm nhen nhóm tư tưởng háo danh ở con trẻ. Vậy ông giải thích như thế nào về quy định mới này?

- Các em học sinh trong hội đồng tự quản không chỉ tuân thủ các yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm một cách cứng nhắc như vai trò của lớp trưởng, lớp phó của các lớp học truyền thống mà các em có thể đề đạt lên giáo viên, lên nhà trường những ý kiến thu thập từ các bạn hoặc ý kiến cá nhân về các hoạt động của trường, của lớp, về cách thức tự quản, điều hành lớp/ban, góp ý cho các bạn.

Thầy cô giáo và phụ huynh chỉ đóng vai trò tư vấn, hỗ trợ. Đây là cách để học sinh tự tin, năng động, có trách nhiệm với tập thể và cá nhân, biết hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.

Trên thực tế, chúng ta có thể hỏi bất cứ phụ huynh nào có con từng được học mô hình trên đều thấy không hề có chuyện “nhen nhóm lòng háo danh” như một số người đề cập. Nói như vậy là chúng ta đang áp đặt quan điểm, suy nghĩ thông thường của người lớn vào con trẻ mà không hiểu bản chất vấn đề.

Các chức danh của hội đồng tự quản lớp học không có bất cứ quyền lợi gì mà chỉ đơn giản là vị trí học sinh tự bầu lên để cùng nhau quản lý lớp học, cùng học tập, hoạt động trong bầu không khí dân chủ.

* Có nhiều ý kiến cho rằng việc bắt các em nhỏ làm những chức vụ to tát như chức chủ tịch, phó chủ tịch là quá sức các em, trong khi trẻ em cần được sống hồn nhiên, trong sáng, tập trung vào học hành. Ông nghĩ như thế nào về ý kiến này?

- Muốn biết có “to tát” hay không thì phải tìm hiểu các quy định, phải nhìn vào hoạt động thực tế của các em chứ không thể suy luận từ tên gọi của các chức danh này. Bởi ở đây các em sẽ không bị áp đặt cứng nhắc, không sợ hãi, không lo phải giấu giếm suy nghĩ cá nhân, mà ngược lại được làm quen với việc nói lên suy nghĩ của mình, trao đổi, thảo luận, xây dựng các hoạt động của lớp và tự nguyện tham gia, nhận xét về bản thân và bạn bè.

Điều này giáo dục các em biết sống tự tin, tự lập, thẳng thắn, chủ động. Nếu duy trì được thì con trẻ của chúng ta sẽ sửa chữa được nhiều khiếm khuyết mà các thế hệ học sinh trước đó thường có như sự thụ động, né tránh, không có chính kiến, không dám phản biện, thuyết phục, không có tinh thần tập thể, bàng quan với mọi vấn đề của bạn bè và cuộc sống xung quanh...

Trẻ em chưa phải là người lớn, đừng nghĩ các em phải chạy đua để được vào vị trí chủ tịch, phó chủ tịch như người lớn từng làm ở đâu đó, vì còn có vai trò của giáo viên.

Trái lại, công việc của các em trong hội đồng tự quản là những việc gần gũi với hoạt động học tập, sinh hoạt, vui chơi của các em. Bên cạnh các em còn có thầy cô giáo, các bậc phụ huynh cùng tham gia tư vấn, giúp đỡ.

Để các em tự quản, chủ động trong sinh hoạt, học tập cũng chính là hướng tới việc giáo dục con người mới. Nói cách khác, đó là một trong những hoạt động học tập theo định hướng mới, chứ không phải cứ bắt các em ngồi ngay ngắn, nghe thầy cô giảng bài mới là học tập.

Không nặng về điểm

* Vậy ngoài quy định thành lập hội đồng tự quản lớp học, ông có thể nêu thêm ưu điểm nào khác nổi bật của mô hình trường học mới được đưa vào điều lệ trường tiểu học?

- Khi Bộ GD-ĐT triển khai việc đổi mới đánh giá học sinh tiểu học (quy định trong thông tư 30), nhiều trường tiểu học, giáo viên lo lắng, sợ việc không chấm điểm thường xuyên sẽ làm mất động lực học tập của học sinh hoặc kêu ca là khó thực hiện, nhưng những nơi từng áp dụng mô hình trường học mới thì lại thực hiện tốt.

Điều này do ngay trong mô hình trường học mới đã quy định cách đánh giá học sinh tương tự thông tư 30. Có nghĩa việc đánh giá học sinh thực hiện trong quá trình, với việc phát hiện và hướng dẫn học sinh từng bước vượt qua khó khăn, khích lệ sự tiến bộ của các em, không nặng nề vào điểm số.

Việc đánh giá như vậy có tác dụng động viên sự ham thích học tập của chính các em chứ không phải tạo động lực từ sự thúc ép của người lớn. Việc đánh giá học sinh cũng coi trọng năng lực, phẩm chất cá nhân của mỗi em chứ không áp dụng cứng nhắc các tiêu chí như trước.

Đặc biệt, những hành vi như phê phán học sinh trước cả lớp bị nghiêm cấm. Đây là những thay đổi có tính nhân văn và cũng đã được rút ra từ thực tiễn triển khai mô hình trường học mới và đổi mới đánh giá học sinh tiểu học, vì thế bộ đã đưa vào dự thảo điều lệ.

* Tại dự thảo điều lệ học sinh tiểu học vẫn giữ quy định trong điều lệ đã ban hành về sĩ số không quá 35 học sinh/lớp. Nhiều nhà quản lý giáo dục, giáo viên cho rằng quy định này lạc hậu so với thực tế, vì sao không điều chỉnh?

- Hiện nay tại một số trường ở thành phố lớn, sĩ số học sinh/lớp của một số trường tiểu học ở mức cao, nhiều nơi trên 50 học sinh/lớp. Tuy nhiên, điều lệ trường tiểu học do Bộ GD-ĐT ban hành áp dụng trên toàn quốc, căn cứ vào mục đích, chương trình giáo dục và đối tượng học sinh chứ không thể căn cứ vào tình trạng ở một số nhà trường để “nắn” quy định theo.

Với chương trình giáo dục tiểu học hiện hành, việc quy định sĩ số không quá 35 học sinh/lớp là phù hợp với khả năng đầu tư, yêu cầu dạy học, tâm sinh lý học sinh và khả năng bao quát, thực hiện nhiệm vụ dạy học của giáo viên. Đây là quy định nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục tối thiểu.

Ở những nước tiên tiến, một lớp học tiểu học thường không quá 25 học sinh. Trên thực tế nước ta, tại nhiều trường, sĩ số học sinh tối đa chỉ ở mức 35 học sinh/lớp, có thể còn thấp hơn.

Những nơi có sĩ số vượt quá quy định này, lãnh đạo ngành GD-ĐT của các địa phương đó phải có giải pháp và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường cơ sở vật chất, giáo viên, mở rộng mạng lưới trường học, thực hiện nghiêm túc quy định tuyển sinh để đảm bảo thực hiện đúng quy định này.

Cá nhân tôi đề xuất ở những nơi tạm thời chưa giảm được sĩ số học sinh như quy định thì cấp chính quyền hỗ trợ ngành giáo dục có thể bố trí hai giáo viên một lớp.

 
Ngày 21/07/2015
Tác giả bài viết: Vĩnh Hà 
Nguồn tin: tuoitre.vn

Phản ứng ‘lớp trưởng’ là ‘chủ tịch’: Do người lớn áp đặt!

đăng 20:32, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện

Pháp Luật TP.HCM tiếp tục giới thiệu ý kiến của Thạc sĩ Hồ Đắc Hải Miên, ĐH Quốc gia TP.HCM, xung quanh Dự thảo Điều lệ trường tiểu học có quy định cơ cấu tổ chức lớp học theo hình thức Hội đồng tự quản kèm chức danh “Chủ tịch” cho học sinh đứng đầu mà Bộ GD – ĐT đang tổ chức lấy ý kiến.

Được biết để có thể thành lập hội đồng tự quản này, học sinh phải tham gia việc bầu cử. Các học sinh trong danh sách ứng cử hay đề cử muốn trở thành chủ tịch hội đồng tự quản phải trình bày trước lớp kế hoạch hành động của mình, đồng thời có thể tìm kiếm các giải pháp huy động số phiếu bạn bè ủng hộ cho mình (tương tự như hình thức “Please vote for me” – vui lòng bỏ phiếu cho tôi - vốn rất phổ biến ở các trường học quốc tế). Việc thành lập hội đồng như trên có tác dụng giúp xây dựng môi trường dân chủ, tăng tính chủ động, khả năng tổ chức, thuyết trình … cho học sinh ngay từ những giai đoạn đầu tiên của bậc họ

Có phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học?

Sự phát triển tâm lý của con người có thể chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi một dạng hoạt động chủ đạo nhất định. Theo đó, đối với trẻ mẫu giáo, trò chơi đóng vai giữ vai trò hàng đầu thì qua đến giai đoạn tiểu học (từ 6 – 12 tuổi), trò chơi mất dần vị trí hàng đầu và thay vào đó là hoạt động học tập nhằm phát triển khả năng nhận thức và tư duy lý luận. Nếu với giai đoạn mẫu giáo, trẻ tập trung vào việc phát triển ngôn ngữ, trí tưởng tượng và các chuẩn mực đạo đức cơ bản, thì ở giai đoạn tiểu học, trẻ bắt đầu biết cạnh tranh, tự đánh giá bản thân, chơi theo đội nhóm và học hỏi các kỹ năng mới.

Như vậy, với đặc điểm tâm lý lứa tuổi như trên, thì mô hình hội đồng tự quản là hoàn toàn phù hợp bởi lẽ mô hình giúp trẻ biết tự đánh giá bản thân xem có phù hợp với vị trí được bầu cử hay không, giúp trẻ phát triển khả năng lý luận để có thể nêu ý tưởng, trình bày và thuyết phục bạn bè bầu cử cho mình. Các kỹ năng mới như thuyết trình, nói trước đám đông, tư duy phê phán cũng được hình thành qua mô hình này từ rất sớm.

Ngoài ra, người lớn khi đưa ra những phán xét về tính phù hợp và đúng sai của mô hình, cũng nên đặt trẻ vào bối cảnh xã hội mà trẻ đang sống. Xã hội đó có gì? Có phải đó là một xã hội hiện đại, đề cao tinh thần dân chủ, sự tự tin, sự lưu loát, sự cạnh tranh để sinh tồn và sự nhanh nhạy trong ứng xử tình huống không. Mô hình hội đồng tự quản đã thúc đẩy được những điều đấy.

Vấn đề đặt ra, có nên bắt đầu áp dụng mô hình ngay từ lớp 1 hay không, trong giai đoạn chuyển giao giữa mẫu giáo và phổ thông, từ trò chơi chuyển sang hoạt động học tập. Cần nhớ rằng trong năm đầu tiên của bậc học trẻ cần được chuẩn bị tâm lý để thích nghi với những điều hoàn toàn mới mẻ và phải đương đầu với một số khó khăn như thích nghi môi trường mới và chế độ học tập mới (giờ giấc, ngồi yên trong lớp học, làm bài tập về nhà).Việc thiếu những thói quen cần thiết sẽ làm trẻ dễ mệt mỏi và nản chí. Vì vậy, không nên để cho trẻ có quá nhiều mối bận tâm và lo lắng từ học hành đến với bầu cử, thuyết trình… Cho nên ý kiến tốt nhất vẫn là nên áp dụng mô hình từ lớp 2 trở đi.

Tên gọi chủ tịch/phó chủ tịch hội đồng tự quản học sinh có hợp lý?

Sự căng thẳng trong dư luận về cách gọi tên các vị trí thật ra do người lớn áp đặt nhận thức, kinh nghiệm và thái độ của mình lên đó. Người lớn cảm thấy căng thẳng với tên gọi vì trong thực tế những gì mang tên chủ tịch, hay hội đồng, hay ủy ban nghe rất khô khan, khó khăn và trầm trọng không nhất thiết phải có trong lớp học.

Trẻ con không cảm nhận tính trầm trọng đó như người lớn do chưa từng trải nghiệm và không hiểu rõ được nội hàm ẩn sâu bên trong ngôn từ. Đối với trẻ, lớp trưởng, lớp phó hay chủ tịch, phó chủ tịch đều có ý nghĩa như nhau, đều là những vị trí đứng đầu lớp có tác dụng giúp đỡ bạn bè, tổ chức các hoạt động, là đầu mối liên hệ với thầy cô và nhà trường, một cách hoàn toàn trong sáng.

Tuy nhiên, người lớn, đặc biệt là phụ huynh học sinh, thông qua lăng kính “sậm màu” của mình sẽ gieo vào đầu trẻ sự “trầm trọng” của vấn đề, rằng vị trí chủ tịch rất to, rất quan trọng, mọi người đều phải phục tùng, kính nể. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của trẻ về giá trị của chức vụ, dẫn đến tâm lý hám quyền, cậy thế, ban đầu xảy ra vụn vặt trong môi trường lớp học, sau đó sẽ định hình thành nhân cách khi trưởng thành. Đó là điều đáng lo ngại nhất.

Chính vì vậy, mô hình quản lý lớp học có thể được áp dụng do tính hữu ích của nó, nhưng tên gọi các vị trí lớp trưởng, lớp phó không thật sự cần thiết phải thay đổi do không có tác dụng gì mà khả năng phát sinh ra những ảnh hưởng tiêu cực lại chiếm ưu thế hơn.

 

Thạc sĩ Tâm lý Nguyễn Thị Nhung – Giảng viên khoa Sư phạm, ĐH Thủ Dầu Một

Tôi hoàn toàn đồng tình với việc lập ra các hội đồng tự quản trong mỗi lớp. Điều này sẽ làm cho các em tự tin, mạnh dạn hơn, tự lập hơn và đặc biệt nâng cao tinh thần tự chịu trách nhiệm trong việc học của bản thân. Còn việc đặt chức danh cho trẻ là gì, theo tôi, chúng ta đừng quá tập trung vào mặt từ ngữ, phần “hình thức” mà quên đi phần chính yếu, phần “nội dung” của dự thảo đó là thay đổi mô hình giáo dục ở nhà trường tiểu học, chúng ta sẽ áp dụng mô hình này như thế nào ở Việt Nam để phát huy hết được hiệu quả của nó.

Trẻ tiểu học tuy còn nhỏ nhưng tiềm năng phát triển ở các em là rất lớn. Người lớn hoàn toàn có thể tin tưởng, mạnh dạn giao nhiệm vụ cho các em, giúp các em phát triển hết được khả năng của mình. Người Việt chúng ta trước giờ vẫn bao bọc các con nhiều quá, chưa tin tưởng giao việc, phần nào làm hạn chế khả năng phát triển của các em.

Còn việc các cháu có tự mãn, sính quyền lực hay không đó là từ cách giáo dục của người lớn, mà cụ thể ở đây thể hiện trách nhiệm trước hết là ở các thầy cô giáo, ông bà, cha mẹ.

Tuy nhiên, đây mới là dự thảo, nếu thực sự chúng ta áp dụng mô hình này, tôi nghĩ còn cần phải nghiên cứu rất nhiều cho phù hợp với thực tiễn giáo dục ở Việt Nam.

 

Tác giả bài viết: Thạc sĩ Hồ Đắc Hải Miên, ĐH Quốc gia TP.HCM 
Nguồn tin: phapluattp.vn

Học VNEN, học sinh phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ

đăng 20:31, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện   [ đã cập nhật 20:41, 30 thg 7, 2015 ]

Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì ngành giáo dục không ngừng được đổi mới và lần đổi mới này đã tìm ra một mô hình trường học mới tại Việt Nam – gọi tắt là VNEN. Theo tôi nghĩ đây là bước tiến quan trọng trong cải cách giáo dục mà dự án đã mang lại. Vì đó là kiểu mô hình nhà trường hiện đại, tiên tiến và phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm giáo dục Việt Nam. Chính mô hình VNEN đã mang lại cơ hội to lớn để từng học sinh tự nhận ra khả năng của chính mình. Và hơn nữa mô hình này đã được xây dựng theo một chương trình hoàn chỉnh dựa trên triết lí: “ Mỗi đứa trẻ đều có thể học và phải học, mọi đứa trẻ đều đặc biệt và loài người chúng ta được sinh ra để học hỏi, để làm cho mọi thứ thứ có ý nghĩa”.
. Chất lượng dạy và học theo mô hình VNEN.

Phải nói rằng chất lượng DH và GD rất đáng yên tâm, không hề thua giảng dạy theo dạy học truyền thống: Đã có sự chuyển đổi rõ rệt về vai trò của giáo viên so với dạy học truyền thống. Trong mô hình VNEN, giáo viên là người tổ chức lớp học; quan sát hoạt động của mỗi cá nhân, của mỗi nhóm; hỗ trợ học sinh khi cần thiết; chốt lại những điều cơ bản nhất của bài học; đánh giá quá trình và kết quả học của học sinh.

 Từ đặc thù nêu trên, hoạt động của giáo viên đã thay đổi căn bản. Việc chính của giáo viên là tổ chức lớp học thành các nhóm và theo dõi, hướng dẫn hoạt động của mỗi học sinh ở nhóm học tập.

- Trong mô hình VNEN, nhóm là đơn vị học tập cơ bản.

- Nhóm trưởng điều hành các thành viên trong nhóm: tự giác, tích cực hoạt động, tự quản, tự học, tự tìm tòi, khám phá phát hiện kiến thức theo hướng dẫn của sách. Mọi thành viên trong nhóm tự nghiên cứu tài liệu, tự học, chia sẻ với bạn, báo cáo với nhóm kết quả học tập. Các thành viên trong nhóm trao đổi, thống nhất và báo cáo kết quả học tập với giáo viên.

- Tuy giáo viên không phải soạn bài nhưng phải nghiên cứu kĩ bài học, hiểu rõ quá trình hình thành kiến thức để tổ chức lớp học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, điều chỉnh nội dung, yêu cầu bài học cho phù hợp với đối tượng và dự kiến các tình huống khó khăn mà học sinh dễ mắc phải trong quá trình hình thành kiến thức để có những giải pháp hợp lí, kịp thời. Phát hiện những học sinh chưa tích cực, học sinh gặp khó khăn trong quá trình học; kiểm tra, hỗ trợ kịp thời những học sinh yếu để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ học tập. Chốt lại những vấn đề cơ bản của bài học. Đánh giá hoạt động học của các cá nhân, các nhóm và cả lớp. Tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi nhóm tự đánh giá tiến trình học tập của mình.

Học sinh được phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ trong nhóm. Học sinh được rèn luyện cách học, cách tư duy. Học sinh được tự học, hoạt động, trải nghiệm hợp tác từ đó có được năng lực mới (Kiến thức, kĩ năng, các phẩm chất, yếu tố khác của năng lực). Giáo viên chỉ tư vấn, hỗ trợ, tổ chức quá trình tự học của HS. Lối học này tạo điều kiện đẩy mạnh đổi mới PPDH và các hình thức dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực chủ động, khả năng tự học của học sinh. Tăng khả năng thực hành, vận dụng, chú ý tính tích hợp vơí hoạt động phát triển ngôn ngữ của học sinh, thông qua các hoạt động học tập. Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của học sinh trong đời sống hàng ngày. Gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của học sinh, của cộng đồng thông qua hoạt động ứng dụng của mỗi học sinh và khuyến khích HS tính tích lũy kiến thức, kinh nghiệm qua mọi kênh thông tin.

Khi dạy học mô hình mới VNEN GV luôn nhận thức đúng và tâm huyết. Giáo viên luôn đảm bảo 5 bước dạy học theo VNEN, HS luôn ghi nhớ và nhuần nhuyễn với 10 bước học tập và tự giác tích cực trong học tập. HS được tương tác với bạn trong nhóm, được tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn.

2. Cấu trúc bài học mô hình VNEN:

Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Như vậy nội dung, yêu cầu và thời lượng học các môn không thay đổi. Các môn học được tích hợp và giúp hỗ trợ nhau trong việc GD học sinh, việc các môn học được chuyển thành hoạt động GD đã làm giảm bớt gánh nặng trong học tập cho các em.

Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, củng cố, vận dụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế.

Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (lô gô) cùng với những “lệnh” thực hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập ( học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp). Thiết kế của tài liệu rất tiện cho GV và HS trong hoạt dộng dạy và học. Đa số kênh hình và kênh chữ rõ ràng giúp HS dễ hiểu, giúp HS tiếp cận bài một cách dễ dàng.

3. Đổi mới về đánh giá học sinh: Đánh giá được tiến hành như sau:

- Đánh giá thường xuyên được tiến hành theo tiến trình bài học và các hoạt động giáo dục hàng ngày bằng hình thức nhận xét.

- Đối tượng tham gia đánh giá kết quả học tập của mỗi học sinh gồm: học sinh tự đánh giá, bạn đánh giá, phụ huynh đánh giá, GV đánh giá.

Thực hiện chương trình VNEN mở ra cơ hội để sự phối hợp nhà trường với các đoàn thể, giữa giáo viên với phụ huynh và cộng đồng xã hội chặt chẽ hơn. Phụ huynh trực tiếp tham gia GD con em mình, trực tiếp tham gia đánh giá con em mình thông qua việc thực hành kĩ năng của con em. Nhà trường thường xuyên liên lạc, phối hợp với phụ huynh và các tổ chức xã hội, vấn đề XHH giáo dục tiến hành rất tốt.

Tất cả các hình thức đánh giá trên đều nhằm mục đích góp phần thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình GDTH, tạo điều kiện giúp giáo viên đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động GDTH, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Khuyến khích HS học tập tích cực, hình thành năng lực tự học, hợp tác, vận dụng kiến thức vào cuộc sống; phát huy sự năng động sáng tạo…Động viên sự tiến bộ của học sinh, và để điều chỉnh quá trình dạy học.

- Động viên HS là chính, giúp HS tự tin, hứng thú, tiến bộ trong học tập;

- Đánh giá cả quá trình học tập, không chỉ đánh giá KQHT; Đánh giá Năng lực;

- Tự đánh giá là chính (bản thân, nhóm, tổ);

- GV đánh giá thường xuyên qua theo dõi, hướng dẫn trong quá trình; kiểm tra kết quả; ĐG quá trình, ĐG năng lực, sự phát triển. 

4. Kết quả sau thời gian thực hiện dạy học theo chương trình VNEN:

Thuận lợi:

- Tài liệu hướng học được xây dựng dưới dạng 3 trong 1 ( nghĩa là dung chung cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh).

- Tài liệu có kênh hình, kênh chữ rõ ràng và các lô gô chỉ dẫn, các câu lệnh thì ngắn gọn, dễ hiểu và thống nhất nhằm giúp học sinh tự đọc, tự học thuận tiện và làm đúng theo mục tiêu bài học.

- Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Với phương pháp dạy học mới còn giúp cho các em phát huy tốt các kỹ năng: như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học, ngoài ra giúp các em hiểu biết nhiều hơn, có trách nhiệm và biết phấn đấu làm chủ quá trình học tập của mình.

- Còn đối với giáo viên thì giúp cho thầy cô có nghiệp vụ sư phạm được nâng cao hơn và có kỹ năng điều hành các hoạt động dạy học.

- Đối với cha mẹ học sinh và cộng đồng thì có liên quan trực tiếp, có trách nhiệm tham gia với nhiều hoạt động và hỗ trợ nhà trường nhiều hơn. Đồng thời cha mẹ học sinh còn được tiếp nhận, bổ sung tri thức từ nhà trường thông qua học sinh.

Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi mà chương trình đã mang lại thì cũng còn rất nhiều khó khăn cần phải được tháo gỡ như:
- Vì đây là chương trình thử nghiệm nên còn thiếu tài liệu cho học sinh học ( như sách hoạt động giáo dục) và vẫn còn một số chỗ chưa hợp lý.
- Học sinh thuộc vùng địa bàn là nông thôn nên khả năng giao tiếp vẫn còn hạn chế. 
- Việc trang trí lớp học, đồ dùng học tập theo mô hình này cũng đòi hỏi nhà trường phải đầu tư kinh phí nhiều hơn so với các lớp học bình thường.
- Việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thống sang phương pháp học tập tích cực một cách đột ngột, nên không khỏi gây cho giáo viên, học sinh và phụ huynh tâm lý hoang mang, sợ học sinh không tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng 
học sinh trung bình, yếu.

- Việc học theo nhóm nên đó là điều kiện tạo cho 1 bộ phận nhỏ học sinh có cơ hội nói chuyện riêng và còn ỷ lại vào những bạn khá, giỏi.

Trên đây là một số băn khoăn, suy nghĩ của riêng cá nhân tôi khi tiếp cận với chương trình dạy học mới, cái mới ra đời thì tất nhiên sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn và thách thức, rất mong quý thầy cô giáo, ban lãnh đạo nhà trường, các bậc phụ huynh và toàn bộ các cấp, các ngành cùng nhau chung tay và quyết tâm thực hiện thành công dự án để góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong tình hình mới.
                               Tôi xin chân thành cảm ơn./.

.

Ngày 30/07/2015
Nguyễn Thị Hạnh
Đơn vị: Trường tiểu học Châu Hạnh I Huyện Quỳ Châu - Tỉnh Nghệ An
Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hạnh 
Nguồn tin: tieuhoc.moet.gov.vn

Mô hình “Hội đồng tự quản” xây dựng sự tự tin vào bản thân cho học sinh

đăng 20:31, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện

GD&TĐ - Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ thành phố Lào Cai là 1 trong 1.447 trường tiểu học của cả nước tự nguyện triển khai áp dụng Mô hình Trường học mới Việt Nam (VNEN).
Việc triển khai tốt Mô hình Trường học mới đã thay đổi toàn diện các hoạt động sư phạm của nhà trường cũng như năng lực, phẩm chất của học sinh.

Trước hết, đó là việc thay đổi về cách dạy, cách học nhằm hình thành năng lực và phẩm chất của học sinh. Việc dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều từ thầy sang trò được thay thế bằng thầy hướng dẫn, tổ chức, khuyến khích cho học sinh tự học để chiếm lĩnh tri thức. 

Học sinh lớp A5 đang tranh cử Cha mẹ học sinh cùng tham dự bầu HĐTQ

Học sinh lớp A5 đang tranh cử Cha mẹ học sinh cùng tham dự bầu HĐTQ


Trong từng giờ học, giáo viên đã phát huy vai trò chủ động của học sinh. Các em được tự học với tài liệu, hợp tác với bạn, tương tác với giáo viên để chủ động chiếm lĩnh kiến thức. 

Để điều khiển các hoạt động kết nối các nhóm trong một lớp thì vai trò của hội đồng tự quản rất quan trọng. Trước đây, lớp trưởng, tổ trưởng giúp giáo viên theo dõi, đánh giá các bạn trong lớp thì nay Hội đồng tự quản lớp tham gia tổ chức các hoạt động. 

Hội đồng tự quản được thành lập ra các ban, và mỗi ban sẽ có các nhiệm vụ khác nhau. Chẳng hạn Ban học tập sẽ tổ chức để các bạn trao đổi các nội dung liên quan đến các hoạt động học tập; Ban văn nghệ tổ chức cho các bạn chơi trò chơi… 

Các ban đều có kế hoạch hoạt động của ban mình theo tuần, theo tháng và có sự luân phiên thực hiện nhiệm vụ của các ban. Mỗi học sinh đều đăng kí tham gia vào một ban và các em sẽ có nhiệm vụ trong thực hiện nhiệm vụ của ban mà mình đã thống nhất.

Hội đồng tự quản là của học sinh, hoạt động vì học sinh và do chính các em thành lập và bầu ra chủ tịch, phó chủ tịch. Tôi cùng đã từng tham dự rất nhiều buổi bầu hội đồng tự quản của các lớp, Hội đồng tự quản của trường. 

Tôi thấy việc tổ chức bình bầu của các em được tổ chức như một ngày hội. Các em được tranh cử, vận động tranh cử để được bầu chọn vào chức danh chủ tịch, phó chủ tịch. 

Đặc biệt các em được tự đề xuất và thống nhất các ban trong hội đồng để duy trì hoạt động của lớp. Trong rất nhiều buổi bình bầu như thế có sự tham gia của cha mẹ học sinh. 

Cha mẹ các em rất hứng khởi và đều ghi nhận đây là việc làm để rèn luyện cho học sinh kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết trình trước đám đông, sự tự tin vào bản thân…

Hoạt động của Hội đồng tự quản lớp cũng rất “mở”. Với các hoạt động của lớp, các em tổ chức cho các bạn nêu đề xuất và đi đến thống nhất. 

Việc điều hành các hoạt động của Hội đồng tự quản lớp cùng rất linh hoạt. Ban chủ tịch hội đồng tự quản cùng với trưởng các ban sẽ phân công nhiệm vụ cho từng thành viên. 

Chẳng hạn để tổ chức một tiết hoạt động ngoại khoá về một chủ đề, các em phân công các ban chuẩn bị về văn nghệ, câu đố, trò chơi, tranh ảnh và các câu hỏi để tìm hiểu về chủ đề đó. 

Như vậy, nhiệm vụ của Hội đồng tự quản không phải áp lực lên chủ tịch Hội đồng tự quản mà được phân chia ra cho các thành viên trong Hội đồng. Các em cùng nhau tổ chức hoạt động, cùng nhau tự quản, tự học, tự tổ chức các hoạt động…

Trên thực tế, cha mẹ học sinh của trường chúng tôi rất đồng tình với việc triển khai áp dụng Mô hình VNEN. Đây cũng là nhiệm vụ đột phá của nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. 

Chúng tôi đã triển khai rất thành công Mô hình VNEN trong những năm qua và chúng tôi tiếp tục triển khai Mô hình VNEN trong năm học tới để tiếp tục đổi mới nhà trường. 

 

Tác giả bài viết: Bùi Thị Kim Chi 
Nguồn tin: giaoducthoidai.vn

ĐÔI NÉT TỰ HÀO VỀ TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN

đăng 20:29, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện   [ đã cập nhật 20:30, 30 thg 7, 2015 ]

Qua 19 năm làm nghề dạy học ở trường Tiểu học, bản thân tôi đã được tham dự học tập nhiều chuyên đề và được tiếp cận đôi lần điều chỉnh chương trình dạy học cũng như được tìm hiểu về các Mô đun dạy học trong nhà trường tiểu học nhằm đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với chương trình đào tạo cấp Tiểu học nói riêng và cho cả chương trình phổ thông nói chung, với mục tiêu để HS bắt kịp với sự phát triển của thời đại khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ, nhất là công nghệ thông tin phát triển như vũ bão

Một buổi sinh hoạt chuyên môn trường

An Mỹ, nơi tôi đang công tác, là một vùng ven biển bãi ngang. Đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn. Bởi vậy lo cái ăn, cái mặc còn khó khăn có đâu lo đến việc đầu tư cho công tác giáo dục. Với cái “khó” đã có sự hỗ trợ kịp thời từ cấp trên: đó là dự án trường học mới tại Việt Nam (VNEN). Mô hình Trường học mới đã đến với trường chúng tôi từ năm học 2012-2013, triển khai tại hai khối lớp hai và ba.

Nhận được dự án này là niềm vui của lãnh đạo địa phương, nhà trường, phụ huynh học sinh và cả tập thể giáo viên trong nhà trường. Vui vì được Dự án tài trợ về mặt tài chính và sách hướng dẫn học cho cả học sinh học chương trình trường học mới VNEN, nhưng chúng tôi cũng không thể tránh được nỗi lo lắng ban đầu: liệu chương trình này có đáp ứng yêu cầu với khả năng học tập của các em trong nhà trường hay không; các em bắt kịp về chuẩn kiến thức và kĩ năng mà chương trình chung quy định không.

Buổi họp Phụ huynh học sinh lớp 4C Tôi đang chủ nhiệm

Những câu hỏi ấy luôn đặt ra cho tập thể cán bộ công chức của trường Tôi. Thế rồi thời gian cũng dần trôi qua nhanh chóng; cái lo của ngày nào trước đây cũng dần tan biến đi theo năm tháng, thay vào đó là một niềm vui hạnh phúc đã đến với cả thầy và trò trường tôi. Bây giờ, các em khóa học sinh cách đây ba năm sắp rời khỏi mái trường mà các em được thầy cô giáo giảng dạy theo chương trình trường học mới VNEN. So với các khóa học sinh đã ra trường những năm học trước đây, phải nói các em có kiến thức vững vàng hơn; có phẩm chất tuyệt vời hơn. Nhưng nổi bật nhất là có một kỹ năng ứng xử và kỹ năng sống tốt hơn cả.

Các em HS lớp 4C do tôi chủ nhiệm đang chăm sóc cây trồng trong một buổi ngoại khóa

Qua quá trình giảng dạy Tôi cảm thấy các em lớn lên từng ngày qua các tiết học và các giờ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mà các em thể hiện dưới sự điều hành của Hội đồng tự quản của lớp. Cải cảm nhận ấy không phải là một lời nói phô trương, cũng không phải là lời nói suông mà hiển hiện rõ nét qua những hành động thực tế của các em. Hàng ngày, trước giờ vào lớp, các em tự thay phiên nhau chăm sóc các góc như góc Thư viện, góc Cộng đồng, góc Thiên nhiên …của lớp. Mỗi em một việc, còn trong giờ học các em họp tác, chia sẻ với bạn trong nhóm, trong lớp. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, là người trợ giúp các em tự học, tự đề xuất và thực hiện các đề xuất ấy. Chính vì vậy cái giá trị cao nhất là sản phẩm của các em tự làm ra, mà các em biết trân trọng và nâng niu nó.

Với thế hệ học sinh này là một chủ nhân tương lai của đất nước trong thời đại Hội nhập kinh tế Quốc tế. Tôi tin chắc rằng nếu chúng ta tiếp tục duy trì mô hình trường học mới VNEN nó sẽ đem lại kết quả giáo dục khả quan cho quê hương An Mỹ nói riêng và cả nước nói chung.

Ngày 30/07/2015
Trần Công Nhân
Trường Tiểu học An Mỹ số 2, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Tác giả bài viết: Trần Công Nhân 
Nguồn tin: tieuhoc.moet.gov.vn

Giới thiệu mô hình trường học mới tại Việt Nam

đăng 20:28, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện

Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam.
MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI TẠI VIỆT NAM
    Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam.

   Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học…

    Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư phạm, một trong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học. Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” trong lớp, do học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm. Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt động của “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của giáo viên, phụ huynh, sự tích cực, trách nhiệm của học sinh. “Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động.

    Vậy “Hội đồng tự quản học sinh” là gì? Hội đồng tự quản là do học sinh, với sự hướng dẫn của giáo viên tự tổ chức và thực hiện. “Hội đồng tự quản học sinh” bao gồm các thành viên là học sinh. Hội đồng tự quản được thành lập là vì học sinh, bởi học sinh và để đảm bảo cho các em tham gia một cách dân chủ, tích cực vào đời sống học đường; khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường, phát triển tính tự chủ, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết của học sinh.

    Sơ đồ: Tổ chức Bộ máy Hội đồng tự quản học sinh bao gồm: 1 Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh, 2 phó Chủ tịch Hội đồng tự quản và các ban tham gia Hội đồng tự quản (Ban học tập, Ban quyền lợi, Ban sức khoẻ, vệ sinh,  Ban văn nghệ, thể dục, Ban thư viện; Ban đối ngoại…)
  
 
Sơ đồ Bộ máy Hội đồng tự quản học sinh - Trường Tiểu học số 2 Noong Luống
 

    Quá trình thành lập Hội đồng tự quản học sinh: Thành lập Hội đồng tự quản học sinh đòi hỏi phải có sự tham gia của giáo viên, học sinh, khuyến khích phụ huynh và các tổ chức khác cùng tham gia. Giáo viên cần chuẩn bị về tư tưởng cho học sinh khi các em tham gia Hội đồng tự quản, những lợi ích có thể có của Hội đồng tự quản học sinh tới cuộc sống của chính các em trong nhà trường những vai trò, trách nhiệm mà các em cùng chia sẻ, gánh vác.

   1. Trước bầu cử
   Sau khi hoàn thành bước chuẩn bị về tư tưởng cho học sinh, giáo viên cùng học sinh thảo luận về cơ cấu Hội đồng tự quản thông thường là 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch. Tuy nhiên số lượng phó chủ tịch tuỳ vào đặc điểm của mỗi lớp, trường học khác nhau. Học sinh, dưới sự định hướng của giáo viên trao đổi về những phẩm chất, năng lực cần có của các bạn trong Hội đồng tự quản. Sau đó học sinh lập danh sách ứng cử và danh sách đề cử để bỏ phiếu bầu Hội đồng tự quản học sinh. Ban kiểm phiếu cũng là học sinh, bao gồm trưởng ban và một số thành viên khác, dưới sự hướng dẫn của giáo viên tiến hành kiểm phiếu. Các học sinh trong danh sách ứng cử, đề cử sẽ có thời gian để chuẩn bị phần ứng cử của mình với nội dung: Giới thiệu về bản thân, những mong muốn của em về lớp học, những việc em sẽ làm nếu như em trở thành Chủ tịch Hội đồng tự quản. Đây là một hoạt động nhằm tạo điều kiện cho học sinh được cảm thấy dân chủ, công bằng, bình đẳng và được học cách thuyết trình trước đám đông.
 
 
Một giờ học theo Mô hình trường học mới tại Trường Tiểu học số 2 Noong Luống
 
   2. Bầu cử
   Một học sinh dưới sự hỗ trợ của giáo viên sẽ điều hành bầu cử. Các ứng cử viên lần lượt tranh cử bằng các bài thuyết trình đã được chuẩn bị trước. Giáo viên lưu ý không để học sinh cầm giấy đọc mà chủ động thể hiện khả năng thuyết trình của mình. Ban kiểm phiếu làm việc sau khi các ứng cử viên đã thuyết trình xong. Học sinh nào có số phiếu cao nhất từ trên xuống sẽ trúng cử vào vị trí Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh. Chủ tịch và Phó Chủ tịch ra mắt trước lớp.

   3. Thành lập các ban chuyên trách
   Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh cùng bàn bạc với giáo viên để quyết định thành lập các ban chuyên trách và thông báo rõ về vai trò của các ban như: Học tập, sức khoẻ và vệ sinh, quyền lợi học sinh, lao động, thư viện... Số lượng các ban tuỳ theo tình hình lớp học và sự thống nhất giữa Chủ tịch, phó Chủ tịch Hội đồng tự quản và học sinh trong lớp quyết định. Hội đồng tự quản cùng giáo viên chủ nhiệm, có sự hỗ trợ của phụ huynh khuyến khích học sinh đăng kí vào các ban theo nguyện vọng, sở thích. Sau khi thành lập các ban, tiến hành bầu trưởng ban, thư kí và xây dựng kế hoạch hành động, động viên các bạn cùng tham gia hoạt động. Để làm việc có hiệu quả, mỗi ban nên có sự hỗ trợ, tư vấn của một phụ huynh và giáo viên.

   Có thể nói, quá trình thành lập “Hội đồng tự quản học sinh” giúp các em hiểu được quá trình bầu cử tự do, công bằng và dân chủ của đất nước, của địa phương; giúp học sinh có thể nảy sinh đề xuất những ý tưởng mới của chính các em. Thông qua hoạt động này học sinh tự giác hơn, phát huy tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo trong quản lý và chỉ đạo những công việc được giao. Hy vọng rằng, mô hình dạy học kiểu mới sẽ ngày càng được nhân rộng để các em học sinh, phụ huynh và các thầy cô giáo được cùng nhau tham gia vào quá trình dạy - học đảm bảo theo mong muốn của xã hội về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay./.
Tác giả bài viết: TXT 
Nguồn tin: tieuhoc.moet.gov.vn

Tổng hợp các tài liệu về mô hình trường học Việt Nam mới VNEN

đăng 20:27, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện

Tổng hợp các tài liệu về mô hình trường học Việt Nam mới VNEN chuẩn bị được thí điểm tại nhiều trường THCS trong năm học 2015-2016, nhiều thầy cô giáo và CMHS còn chưa hiểu nhiều về mô hình này, sau đây tôi xin giới thiệu một số tài liệu do dự án cung cấp tại trang http://tieuhoc.moet.gov.vn

Tác giả bài viết: TXT 
Nguồn tin: tieuhoc.moet.gov.vn

Tổng hợp các bài viết về Mô hình dạy và học Escuela Nueva ở Việt Nam (VNEN)

đăng 20:25, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện

Năm học 2015-2016, mô hình dạy học VNEN sẽ được thí điểm tại một số trường THCS trên cả nước. Tôi xin giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết về mô hình VNEN để tham khảo:
VNEN
1.Vietnam Escuela Nueva A New and Exciting Way of Learning.

(Nguồn: http://www.worldbank.org/vi/news/feature/2012/10/10/vietnam-escuela-nueva-a-new-and-exciting-way-of-learning)

* Với mô hình Trường học mới, học sinh tham gia nhiệt tình hơn vào lớp học và giáo viên đóng vai trò hỗ trợ.

Trong một phòng học nhỏ ở Trường Tiểu học Bát Xát của tỉnh Lào Cao, Việt Nam, Nguyễn Minh Thư, một học sinh lớp hai, đang dẫn dắt nhóm bạn học cùng giải một bài toán. Cô giáo của Thư cũng ở trong lớp học, nhưng chủ yếu hỗ trợ khi nhóm của Thu gặp khó khăn.

“Chúng em thảo luận rất nhiều về bài học,” Thư nói,“Nếu các bạn không biết thì nhóm trưởng sẽ giúp tìm ra phương án đúng nhất và nhanh nhất.”

Trong lớp học ở Việt Nam, học sinh thường chỉ ngồi lặng lẽ suốt giờ học, lắng nghe và ghi chép lại những điều giáo viên giảng chứ không tham gia thảo luận nhóm. Nhờ dự án mới mang tên Trường học mới, Thư và hàng trăm học sinh khác từ sáu tỉnh của Việt Nam, phần lớn đến từ các gia đình dân tộc thiểu số, đã được hưởng lợi từ mô hình học tập lấy học sinh làm trung tâm này.

Mô hình giáo dục sáng tạo của thế kỷ 21

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong tiếp cận giáo dục tiểu học với tỉ lệ tốt nghiệp đạt gần 100%. Tuy nhiên, thách thức chính trong việc tăng cường chất lượng dạy và học thì vẫn còn tồn tại.

Để giải quyết thách thức này, Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều cải cách trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, bao gồm việc áp dụng mô hình giáo dục tiên tiến từ Colombia. UNESCO đánh giá mô hình Trường học mới của Colombia là mô hình giáo dục tiểu học tốt nhất ở khu vực nông thôn Mỹ Latin. Đây cũng được coi là một trong những mô hình giáo dục sáng tạo nhất của thế kỷ 21.

Năm 2010, Chính phủ Việt Nam triển khai một dự án thí điểm áp dụng mô hình trường học mới ở 24 trường ở 6 tỉnh. Chương trình thí điểm rất thành công nên chính phủ quyết định mở rộng ra toàn bộ 63 tỉnh, thành phố với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới và một khoản tài trợ trị giá 84,6 triệu đô la Mỹ của Quỹ Hợp tác Giáo dục Toàn cầu. Sẽ có thêm 440.000 học sinh tiểu học được hưởng lợi từ dự án này.

“Quan trọng nhất của mô hình trường học mới là đã chuyển từ phương thức giáo dục truyền thống sang một phương thức tiên tiến và hiệu quả hơn,” ông Trương Kim Minh, Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Lào Cai, chia sẻ. “Quá trình này bao gồm cả cải cách phương pháp dạy học, thúc đẩy quan hệ mật thiết hơn giữa nhà trường và cộng đồng, và nâng cao năng lực quản lý trường học cũng như cải thiện tài liệu học tập cho cả giáo viên lẫn học sinh.”

Mô hình này tập trung vào phương pháp học tập lấy học sinh làm trung tâm, cho phép học sinh sử dụng các tài liệu và dụng cụ học tập từ các góc học tập trong lớp để phục vụ nhu cầu của mình. Hướng dẫn học tập độc đáo với rất nhiều các hoạt động trong lớp cũng giúp kết nối học sinh với giáo viên đóng vai trò người hỗ trợ.

“Những kỹ năng về sáng tạo và giải quyết vấn đề, cùng với giá trị của sự chia sẻ và cộng đồng, cần phải được nuôi dưỡng từ sớm “, ông Suhas Parandekar, chuyên gia kinh tế, Ban Phát triển Con người, Ngân hàng Thế giới, chia sẻ. “Dự án sẽ giúp các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam học tập và áp dụng phương pháp giảng dạy và học tập mới. Việc này sẽ giúp trẻ thu nhận được những kỹ năng và giá trị mà các em cần để thành công trong một thế giới phức tạp và năng động hiện nay.”

2. “Chủ tịch lớp” là chuyện phụ – Thanh Tuấn

(Nguồn: https://www.facebook.com/ethanhtuan?fref=nf&pnref=story)

Mô hình trường học mới (VNEN) của VN học tập từ mô hình Escuela Nueva của Colombia một trong những mô hình giáo dục tiểu học thành công nhất trên thế giới và từng được UNESCO khuyến khích là mô hình nên nhân rộng và áp dụng ở các nước khác.

Năm 2013, khi tham gia vào phỏng vấn và chụp hình giáo viên và học trò của chương trình này ở Lào Cai cho báo cáo toàn cầu EFA của UNESCO, tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy các học sinh học theo chương trình này có khả năng ngôn ngữ và chủ động tốt hơn rất nhiều so với các bé cùng lứa tuổi ở thành phố. Cách học của họ chủ yếu là trao cho học sinh quyền chủ động tự nghiên cứu môn học, mỗi bạn sẽ luân phiên làm nhóm trưởng, lớp trưởng và tự nghiên cứu bài học còn giáo viên chỉ là người hỗ trợ.

Lào Cai là địa phương đã triển khai chương trình này được vài năm và triển khai rộng khắp ở cả thành phố và các huyện của tỉnh và họ làm rất thành công, đặc biệt là ở thành phố. Các giáo viên của họ, ví dụ như cô giáo Van Anh Hoang là người đã áp dụng rất thành công phương pháp mới này và xem họ dạy mọi người sẽ rất ấn tượng với hiệu quả của chương trình mới.

Một số giáo viên có con học chương trình này khi tôi phỏng vấn nói họ rất ngạc nhiên khi vốn từ của con cái họ đã tăng rất nhiều sau khi học VNEN một thời gian (điều khá dễ hiểu vì các em được tương tác, trao đổi chủ động nhiều hơn trong lớp).

Tôi không ngạc nhiên khi thấy giáo viên ở TP HCM còn nhiều nghi ngại hay thực hiện không thành công vì các cán bộ quản lý chương trình thử nghiệm khi đó và người của UNESCO cũng nói thường các thành phố như HN, TPHCM, là nơi rất bảo thủ và các thầy cô ngại trước các thay đổi như này – Lào Cai họ đã triển khai từ lâu và có hiệu quả thay đổi rõ rệt. Tôi nghĩ câu chuyện “chủ tịch” chỉ là chuyện vô cùng phụ và có lẽ đơn thuần là vì cách dịch của người thực hiện chương trình chứ không phải là vấn đề chính trong câu chuyện này. Khi tìm hiểu chương trình này, hỏi các thầy cô ở thành phố thật sự là không trúng đâu.

3. Chuyện ở trường rẻo cao – Hạ Anh

(Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/205519/nhung-lop-hoc-day–khon-.html)

Ở lớp 5 Trường tiểu học Nậm Cắn 1, Hoa là Chủ tịch hội đồng tự quản. Làm “thủ lĩnh”,  không chỉ phụ trách các hoạt động học tập, văn nghệ trên lớp, Hoa còn cùng thầy cô đi vận động bạn bè tới trường.

Nằm trên rẻo cao huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An cách thành phố Vinh 300 km, thầy trò trường Nậm Cắn 1 đang bận rộn với không khí học tập của mô hình “trường học mới”.

Tại một buổi học chiều, thầy giáo Trần Văn Tuyến đang hướng dẫn học sinh lớp 3A bài học “Em đã làm gì để giúp đỡ cha mẹ?’.

Lớp học có 20 em, bàn ghế được kê thành 4 nhóm. Sau màn chào hỏi, các nhóm trưởng nhanh nhẹn đi về góc học tập, mang sách vở của nhóm ra bàn học, từng tốp 4 – 5 em chúi đầu vào thảo luận. Thầy Truyền lúc dừng lại ở nhóm này để nghe trò đọc tiếng Việt, lúc lại di chuyển về nhóm kia để xem  các trò đáp xung quanh nội dung bài học, như bạn ở nhà đã làm gì, từ này viết thế nào mới đúng chính tả,v…. Các nhóm trưởng không cố định theo năm, theo học kỳ mà được thay đổi để tạo điều kiện cho các em được thể hiện mình, bớt đi nhút nhát.

Học sinh ở đây chủ yếu là người Mông, khi đi học chưa thành thạo tiếng Việt, khá rụt rè trong giao tiếp. Dạy học ở Kỳ Sơn được 10 năm, mấy năm nay, thầy Truyền thấy học sinh của mình đã khác. Các em thích tới lớp hơn, thầy cô ít phải tới nhà vận động đến trường như trước. Trong lớp, bạn bè chịu khó đùa nghịch và bắt chuyện với người lớn.

Lầu Thị Hoa khoe với khách năm nay có kế hoạch đi thi học sinh giỏi toán dưới huyện. Cuối năm học, Hoa sẽ ra trường. Cô Nguyễn Thị Phương, Hiệu trưởng nhà trường còn nhớ mãi  ấn tượng về “điều chưa từng có trước đây”. Đó là chuyện các học sinh khối 5 năm ngoái đã tự tay tổ chức lễ chia tay nhà trường, tự chuẩn bị hoa quả bánh kẹo, trang trí khung cảnh và mời khách.

Anh Lầu Bá Thái, Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Cắn chia sẻ, điều anh thấy rõ nhất ở những đứa trẻ là thay đổi thái độ từ rụt rè đến tích cực. Gần nhà anh có mấy cháu, trước đây có gặp thì cũng cắm mặt đi, không chào. Bây giờ thì biết chào hỏi và trả lời bằng tiếng phổ thông, chứ không dùng tiếng địa phương như trước.

Theo ông Nguyễn Hồng Hoa, Trưởng phòng Giáo dục huyện Kỳ Sơn, cả huyện có 3 trường tổ chức dạy hoc theo cách mới. Thấy cái mới, Kỳ Sơn cũng hào hứng, nhưng khi làm thì phải chọn hiệu trưởng “cứng tay” bởi không dễ thay đổi nếp dạy truyền thống của giáo viên, và nhất là nhận thức của người dân trong xã. Sau 3 năm thực hiện, chất lượng giáo dục những nơi này tnhúc nhích đổi thay. Như trường tiểu học Nậm Cắn 1, HS giỏi tăng từ 14% lên 18%, HS loại trung bình giảm đi.

“Học sinh được nói nhiều, vốn tiếng Việt tăng lên. Trước đây, khi đến làm việc tại các trường, HS cứ im lặng cắm cúi vào sách vở. Bây giờ, vào lớp, các em mạnh dạn hẳn” – ông Hoa vui vẻ.

Lăn lộn nhiều với giáo dục vùng cao và gắn bó với tiểu học hơn 20 năm, ông Trần Thế Sơn, Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học (Sở GD-ĐT Nghệ An) chia sẻ: “Khi đến Nậm Cắn 1, nhiều anh em thốt lên vì trẻ con lớn nhanh và khôn ra hẳn”.

73 trường tham gia

Nậm Cắn 1 là 1 trong số 73 trường ở Nghệ An tham gia tổ chức dạy học theo mô hình “trường học mới” (VNEN). Ông Sơn vẫn còn nhớ, những ngày đầu triển khai cách dạy học theo tinh thần “thầy thiết kế, trò thi công” như thế này, nhiều cô giáo không dám đi giầy cao gót vì hay phải di chuyển trong lớp. HS chuyển từ tư thế “ngồi đẹp” (ngồi khoanh tay, hướng mặt lên bục giảng) sang ngồi thành từng nhóm, quay mặt vào nhau. Nhưng cái khó hơn cả là sự nghi ngại của phụ huynh. Một chuyên viên ở Phòng Giáo dục thành phố Vinh cho biết, trong năm đầu, chị thường xuyên tiếp nhận thắc mắc, rồi thuyết phục phụ huynh không cho con chuyển lớp.

4. Những lớp học bất tuân truyền thống – Hạ Anh

(Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/203124/nhung-lop-hoc-bat-tuan-truyen-thong.html)

Lớp học kê theo từng nhóm 4-6 em, học sinh thảo luận sôi nổi, cô giáo không chấm điểm số thường xuyên mà thay vào đó là các hình mặt cười, lời nhận xét động viên hoặc góp ý. Thay vì “lớp trưởng”, “tổ trưởng”, trong lớp sẽ có các “chủ tịch”, “trưởng ban”…Không gian lớp học vui tươi còn không khí thì bớt vẻ trầm lặng, nghiêm ngắn.

Đó là những cảm nhận khi có dịp dự giờ các lớp học đang được tổ chức theo mô hình “trường học mới tại Việt Nam” (Việt Nam Escuela Nueva, viết tắt là VNEN).

Năm học 2014-2015, hơn 2.000 trường tiểu học trong cả nước (chiếm 10%) thực hiện dạy học theo mô hình này (trong đó, có gần 1.500 trường học thực hiện theo dự án và hơn 800 trường  tự nguyện nhân rộng toàn phần).

Với các nhà quản lý giáo dục, mô hình này là một cách trả lời cho những đòi hỏi về đổi mới giáo dục, như “chuyển hoạt động dạy học của người thầy sang hoạt động tự học của học sinh, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, trang bị thêm nhiều kỹ năng còn thiếu của học sinh, cân đối giữa dạy chữ – dạy người”,v.v.

5. Tự quản – Tự học – Tự đánh giá – Quý Hiên

(Nguồn: http://www.tienphong.vn/giao-duc/mo-hinh-truong-hoc-moi-tu-quan-tu-hoc-tu-danh-gia-756727.tpo#VNEN)

Mô hình trường học mới được Bộ GD&ĐT kỳ vọng là giải pháp sư phạm tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hoà dạy chữ – dạy người, nhưng, việc tiến tới triển khai đại trà hiện gặp nhiều khó khăn.

Hầu hết học sinh ở các lớp VNEN thể hiện sự mạnh dạn, tự tin và chủ động tham gia các hoạt động giáo dục. Tình trạng dạy học áp đặt một chiều của giáo viên và lối học thụ động của học sinh được khắc phục đáng kể.

Cách thức tổ chức lớp học theo các nhóm đã tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, khám phá, tự chiếm lĩnh kiến thức. Mối quan hệ, tương tác giữa học sinh với giáo viên, và quan hệ giữa học sinh với nhau được tăng cường. Nhiều địa phương thấy mô hình hay đã chủ động triển khai thêm.

Vì thế, đến nay, trên cả nước có gần 2.500 trường tiểu học trên tổng số 15.000 trường thực hiện mô hình VNEN. Ngoài ra, từ năm học này, Bộ GD&ĐT cũng sẽ cho thí điểm mô hình VNEN ở cấp THCS tại 24 trường thuộc sáu tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Hòa Bình, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hòa.

Ngồi học theo nhóm

Mô hình VNEN khác gì với mô hình lớp học truyền thống, thưa ông? 

Thực tiễn cho thấy, mô hình truyền thống nặng về truyền thụ kiến thức có tính áp đặt, còn VNEN khắc phục nhược điểm này, đảm bảo sự hài hòa giữa dạy chữ và dạy làm người.

Đây là giải pháp đổi mới toàn diện, có tính hệ thống, bao gồm đổi mới cách dạy, cách học, cách đánh giá, cách thức tổ chức quản lý lớp học, quản lý nhà trường và đổi mới cả cách tham gia của cha mẹ học sinh, cộng đồng trong việc tổ chức hoạt động dạy học.

Có thể thấy sự khác biệt của mô hình VNEN so với mô hình nhà trường truyền thống trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý là sự đổi mới về phương pháp.

Với mục tiêu lấy “hoạt động học” làm trung tâm, nên giáo viên không giảng giải, không truyền thụ kiến thức một chiều cho cả lớp nghe. Trong lớp, thầy cô hướng dẫn học sinh tự học theo nhóm và tập trung theo dõi các em để kịp thời hỗ trợ khi các em gặp khó khăn. Hình thức tổ chức lớp học cũng thay đổi căn bản.

Các em không ngồi hướng mặt đồng loạt lên bục giảng nữa mà ngồi học theo nhóm, có nhóm trưởng luân phiên điều hành. Mô hình này rất chú trọng hoạt động tự giáo dục của học sinh, bao gồm tự quản – tự học – tự đánh giá.

Công cụ tự quản quan trọng nhất là Hội đồng tự quản – một tổ chức của học sinh, vì học sinh, do học sinh bầu ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ngoài ra, mô hình còn sử dụng các công cụ như góc học tập, góc cộng đồng, thư viện lớp học, các hộp thư “điều em muốn nói”, “hộp thư bè bạn”… để giáo dục.

Cách đánh giá học sinh ở những lớp họ VNEN cũng khác với lớp học truyền thống?

Đúng vậy, nhưng là ở những năm trước. Khi thực hiện mô hình VNEN, chúng tôi đồng thời triển khai đổi mới căn bản cách đánh giá học sinh. Thay vì chỉ đánh giá kết quả học tập thông qua điểm số như trước đây thì ở VNEN việc đánh giá bao gồm kết hợp định lượng (bằng cách cho điểm) và định tính (bằng nhận xét) của giáo viên, phụ huynh, học sinh trong quá trình học.

Cách đánh giá mới giảm được áp lực về điểm số, khuyến khích dạy – học thực chất, được xã hội đồng thuận. Vì thế, từ năm học 2014 – 2015, Bộ GD&ĐT đã áp dụng cách đánh giá mới ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước chứ không chỉ thực hiện trong khuôn khổ các trường thực hiện mô hình VNEN. Đây được xem là một bước phát triển mới của giáo dục tiểu học.

Như Tiền Phong đã có bài phản ánh, nhiều giáo viên tỏ ra lo lắng học sinh không hiểu bài khi thực hiện mô hình VNEN. Ông nghĩ thế nào về điều này?

Trong lớp, thầy cô hướng dẫn học sinh tự học theo nhóm và tập trung theo dõi các em để kịp thời hỗ trợ khi các em gặp khó khăn. Hình thức tổ chức lớp học cũng thay đổi căn bản. Các em không ngồi hướng mặt đồng loạt lên bục giảng nữa mà ngồi học theo nhóm, có nhóm trưởng luân phiên điều hành.

Lo ngại này là một thực tế, bởi lâu nay giáo viên chúng ta vẫn quen giảng giải, truyền thụ một chiều và học sinh thụ động học theo những gì giáo viên truyền đạt. Bây giờ cách dạy, cách học hoàn toàn khác.

Ban đầu chưa quen thì lo lắng học sinh không hiểu bài, nhưng nếu giáo viên biết cách theo dõi, quan sát, tập cho học sinh cách học mới và đồng hành với các em trong quá trình học tập thì không những tất cả các em đều hiểu bài mà còn học đến đâu chắc đến đấy. Tất nhiên, để thay đổi nhận thức, nhất là từ bỏ thói quen “thuyết giảng” ăn sâu vào giáo viên là không dễ, cần có quá trình. Hiện chúng tôi đã có nhiều giải pháp để hỗ trợ giáo viên.

6. Khắc phục “bệnh” nói nhiều của giáo viên – Quý Hiên

(Nguồn http://www.tienphong.vn/giao-duc/khac-phuc-benh-noi-nhieu-cua-giao-vien-754357.tpo#qu%C3%BD%20hi%C3%AAn)

Giáo viên phải đi… dép lê

Cô Lê Thị Thu Hiền là giáo viên Trường Tiểu học thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Cách đây hai năm, Trường tiểu học thị trấn Đại Từ bắt đầu tham gia thí điểm tổ chức dạy học theo mô hình VNEN, cô Hiền là một trong số không nhiều giáo viên được nhà trường lựa chọn đi tập huấn ở tỉnh.

Năm học 2012 – 2013, cô trực tiếp dạy học sinh lớp 3, năm sau cô theo các em lên lớp 4 và năm học này, cô tiếp tục cùng các em lên lớp 5. Cô Hiền chia sẻ: “Lớp tập huấn đầu tiên chỉ giúp tôi hình thành bước đầu hình ảnh về một lớp học của mô hình trường học mới. Đại để đó là một môi trường học tập mà học sinh phải tự học, giáo viên thì không đóng vai trò thuyết giảng mà chủ yếu là hướng dẫn – hỗ trợ các em. Còn để thao tác một cách nhuần nhuyễn, thành thục như bây giờ tôi phải trải qua nhiều khóa tập huấn khác cộng với quá trình trải nghiệm thực tế. Hơn nữa, trong suốt quá trình dạy học tôi phải đọc và suy ngẫm nhiều sách vở – tài liệu tập huấn”.

Theo cô Hiền, để tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới, giáo viên vất vả hơn rất nhiều so với mô hình trường học truyền thống. Điểm nổi bật của mô hình VNEN là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học. Trong lớp, các em ngồi học theo nhóm, hướng mặt về nhau để cùng trao đổi và tự học.

Quản lý lớp học là “hội đồng tự quản học sinh” cùng các “ban” trong lớp, do tập thể lớp bầu ra. Học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm. “Hội đồng tự quản học sinh” là công cụ hữu hiệu, một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động.

“Dù chỉ đứng ở vị trí người hướng dẫn, nhưng không vì thế mà vai trò của giáo viên trở nên mờ nhạt. Cô giáo phải làm sao để bao quát được hoạt động của tất cả các nhóm (với lớp học truyền thống thì việc này dễ dàng hơn do tất cả học sinh đều phải hướng lên bảng), phải di chuyển liên tục và hợp lý từ nhóm này sang nhóm khác để cho việc hoạt động nhóm của các em là thực chất chứ không mang tính hình thức. Thời gian đầu, thậm chí chúng tôi còn không dám mang giày mà phải đi dép lê để đỡ đau chân”, cô Hiền kể.

Chữa “bệnh” nói nhiều

Học sinh không hiểu bài là nỗi ám ảnh trong hầu hết mỗi giáo viên tham gia thí điểm mô hình VNEN, khi mà mô hình này đòi hỏi giáo viên phải… nói ít, giảng ít, mà chỉ tập trung quan sát, hướng dẫn học trò tự học.

Cô Nguyễn Thị Thanh Thu, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tân An, huyện Yên Dũng, Bắc Giang cho biết: “Theo mô hình tổ chức lớp học truyền thống, với mỗi bài học giáo viên đặt vấn đề cần giải quyết, sau đó để học sinh khai thác những nội dung cần tìm hiểu trong vấn đề đó, cuối cùng giáo viên chốt lại những gì cần ghi nhớ.

“Ban đầu nhiều cô giáo cứ thắc mắc, dạy thế thì học sinh làm sao hiểu được! Nhưng giờ thì các cô tự tin lắm rồi, vì so với học sinh của lớp truyền thống, học sinh VNEN rất chủ động, mạnh dạn, năng nổ, diễn đạt rất mạch lạc. Những em giỏi là giỏi thật sự, nhờ năng lực tự học của chính mình chứ không phải do được nhồi nhét”. 

Cô giáo Lê Thị Thu Hiền, Trường Tiểu học thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Nhưng khi dạy theo VNEN thì giáo viên chỉ là người hướng dẫn để các em tự trải nghiệm, làm việc cá nhân, chia sẻ trong cặp đôi, thảo luận trong nhóm để tự làm việc với nhau, tự chiếm lĩnh kiến thức, rút ra bài học. Ban đầu triển khai, giáo viên nào cũng chỉ lo học sinh của mình không hiểu bài, nên dạy được vài bài lại quay về giảng giải theo cách cũ; thậm chí có giáo viên buổi sáng dạy theo VNEN, buổi chiều dạy theo truyền thống”.

Theo cô giáo Nguyễn Thị Huệ, Trường Tiểu học Hùng Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, để chữa “bệnh” nói nhiều, giáo viên không còn cách nào khác là phải được thực hành mô hình VNEN.

“Tôi cũng như hầu hết các thầy cô khác, cứ lo học sinh không hiểu bài nên phải nói, nói thật nhiều! Nhưng qua thực tế ba năm làm VNEN, tôi rút ra được bài học quý giá: cứ để cho học sinh trải nghiệm, cứ để các em tự đúc kết, thì kiến thức thu được mới thực sự là của các em. Chỉ khi nào các em gặp khó khăn, tỏ ra không hiểu thì mới cần sự hỗ trợ, can thiệp của giáo viên. Quan trọng là giáo viên phải tìm ra cách gợi mở, giúp các em hình thành được kiến thức mới”, cô giáo Huệ nói.

7. Danh sách các nước áp dụng Escuela Nueva

http://www.escuelanueva.org/portal/en/escuela-nueva-model/escuela-nueva-in-the-world.html

8. Dự thảo:

http://vanban.moet.gov.vn/?page=1.28&view=853

Tác giả bài viết: TXT 
Nguồn tin: hocthenao.vn

TRIỂN KHAI MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN

đăng 19:00, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện   [ đã cập nhật 20:25, 30 thg 7, 2015 ]

Mô hình VNEN là mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH, thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản: HS được học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân; Nội dung học thiết thực, gắn kết với đời sống thực tiễn hàng ngày của HS; Kế hoạch dạy học được bố trí linh hoạt; Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức tập thể; Tài liệu có tính tương tác cao và là tài liệu hướng dẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác; Phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ động cho GV và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp quản lý giáo dục địa phương.
.
CHUYÊN ĐỀ 

TRIỂN KHAI MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN

I. Giới thiệu về mô hình “Trường học mới” (VNEN)

Mô hình VNEN là mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH, thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản: HS được học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân; Nội dung học thiết thực, gắn kết với đời sống thực tiễn hàng ngày của HS; Kế hoạch dạy học được bố trí linh hoạt; Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức tập thể; Tài liệu có tính tương tác cao và là tài liệu hướng dẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác; Phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ động cho GV và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp quản lý giáo dục địa phương.

-Tổ chức hội đồng tự quản lớp học và hướng dẫn, bồi dưỡng của GV cho các thành viên, các ban của HĐTQ lớp học ;

-Sự hợp tác của phụ huynh học sinh và sự phối hợp của cộng đồng với GV và nhà trường;

-Tổ chức lớp học ở mô hình trường học mới  VNEN (góc học tập, thư viện lớp học, hòm thư cá nhân và hòm thư bạn bè, điều em muốn nói, sơ đồ cộng đồng, …);

-Vai trò của nhóm học tập, của GV chủ nhiệm lớp.

2. Đổi mới PPDH của GV và phương pháp học tập của HS.

Tự học của cá nhân, học tập hợp tác và sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm học tập của mô hình trường học mới VNEN.

Sử dụng tài liệu Hướng dẫn học các môn học: Cấu trúc TLHD học và vấn đề lựa chọn phương pháp hợp lí khi sử dụng tài liệu hướng dẫn học.

Việc sử dụng đồ dùng dạy học và ĐDDH tự làm.

Tự đánh giá quá trình học tập và kết quả học tập của học sinh (Thông qua Bảng tiến độ học tập cá nhân và Bảng tiến độ của HS trong nhóm- Trang 20 TL môn TN-XH lớp 3).

Giáo viên thường xuyên đánh giá quá trình, kết quả học tập, giáo dục của học sinh.

Đánh giá của gia đình và cộng đồng về kết quả giáo dục học sinh.

Đánh giá tiết dạy của giáo viên trong mô hình trường học mới.

 

ĐẶC ĐIỂM MÔ HÌNH VNEN

I - Hoạt động giáo dục:

 -  Mục tiêu tổng thể của Mô hình VNEN là phát triển con người: Dạy chữ – Dạy người.

 -  Mô hình VNEN hướng tới chuyển các hoạt động giáo dục trong nhà trường thành các hoạt động tự giáo dục cho học sinh.

 -  Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đều Vì lợi ích của học sinh, Của học sinh và Do học sinh thực hiện. Đặc trưng của Mô hình trường học mới là “ TỰ”

+ Học sinh:         Tự giác, tự quản;

                                      Tự học, tự đánh giá;

                                      Tự tin, tự trọng.

          + Giáo viên:        Tự chủ;

                                      Tự bồi dưỡng.

          + Nhà trường:     Tự nguyện

-   Mô hình VNEN có các tài liệu Hướng dẫn các hoạt động giáo dục: Tổ chức dạy học;

          -   Tổ chức các hoạt động giáo dục Đạo đức, Thể chất, Nghệ thuật và Kĩ năng sống cho học sinh.

II. Hoạt động dạy học:

Đổi mới căn bản của Mô hình trường học mới là chuyển:

- Hoạt động Dạy của giáo viên thành hoạt động Học của học sinh;

- Hoạt động quy mô lớp thành hoạt động của quy mô nhóm;

- Học sinh từ làm việc với giáo viên thành làm việc với Sách, có sự tương tác với bạn.

1. Vai trò của giáo viên:

Từ đặc thù nêu trên, hoạt động của giáo viên đã thay đổi căn bản. Việc chính của giáo viên là tổ chức lớp học thành các nhóm và̀ theo dõi, hướng dẫn hoạt động của mỗi học sinh ở nhóm học tập.

Trong mô hình VNEN, nhóm là đơn vị học tập cơ bản.

          Nhóm trưởng là người thay mặt giáo viên điều hành các thành viên trong nhóm: tự giác, tích cực hoạt động, tự quản, tự học, tự tìm tòi, khám phá phát hiện kiến thức theo hướng dẫn của sách. Mọi thành viên trong nhóm phải tự nghiên cứu tài liệu, tự học, chia sẻ với bạn, báo cáo với nhóm kết quả học tập. Các thành viên trong nhóm trao đổi, thống nhất và báo cáo kết quả học tập với giáo viên.

Tuy giáo viên không phải soạn bài nhưng phải nghiên cứu kĩ bài học, hiểu rõ quá trình hình thành kiến thức để tổ chức lớp học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, điều chỉnh nội dung, yêu cầu bài học cho phù hợp với đối tượng và dự kiến các tình huống khó khăn mà học sinh dễ mắc phải trong quá trình hình thành kiến thức để có những giải pháp hợp lí, kịp thời .

2. Hoạt động của giáo viên:

Giáo viên chọn vị trí thích hợp để quan sát được hoạt động của tất cả các nhóm, các học sinh trong lớp.

Giáo viên chỉ đến hỗ trợ học sinh khi học sinh có nhu cầu cần giúp đỡ hoặc giáo viên cần kiểm tra việc học của một học sinh, hoặc một nhóm.

          Thông qua quan sát, kiểm tra, giáo viên đánh giá sự chuyên cần, tích cực của mỗi học sinh; đánh giá hoạt động của từng nhóm và vai trò điều hành của mỗi nhóm trưởng.

Phát hiện những học sinh chưa tích cực, học sinh gặp khó khăn trong quá trình học; kiểm tra, hỗ trợ kịp thời những học sinh yếu để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ học tập.

Chốt lại những vấn đề cơ bản của bài học.

Đánh giá hoạt động học của các cá nhân, các nhóm và cả lớp.

Tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi nhóm tự đánh giá tiến trình học tập của mình.

3. Dự giờ và đánh giá tiết dạy:

Người dự không tập trung quan sát, đánh giá hoạt động của giáo viên mà đánh giá quá trình học, kết quả học của học sinh.

Việc đánh giá dựa vào các bước lên lớp của bài học, đánh giá hoạt động và kết quả học tập của mỗi nhóm và mỗi học sinh, tập trung vào:

                   - Học sinh có thực sự tự học ?

                    - Học sinh có tự giác, tích cực ?

                   - Học sinh có thực hiện đúng các bước lên lớp ?

                   - Các nhóm có hoạt động đều tay, sôi nổi ?

                   - Nhóm trưởng điều hành nhóm có tốt ?

                   - Các  hoạt động học diễn ra đúng trình tự lô gic ?

                   - Học sinh hoàn thành các hoạt động nêu trong sách ?

                   - Học sinh có hiểu bài, nắm được bài, hoàn thành mục tiêu bài học ?

4. Đánh giá học sinh:

a/Giáo viên đánh giá học sinh thông qua việc quan sát:

                    - Tình thần, thái độ học tập, tính tự giác, tích cực tham gia hoạt động nhóm;

                    - Tính hợp tác, thực hiện điều hành của nhóm trưởng;

                    - Kết quả thực hiện các hoạt động trong bài, đối chiếu với mục tiêu bài học;

                    - Ghi chép của học sinh.

b/ Học sinh tự đánh giá:

Đánh giá việc hoàn thành từng hoạt động trong bài học;

Đánh giá kết quả đạt được sau mỗi hoạt động, sau bài học;

Đánh giá việc hoàn thành mục tiêu bài học.

c/ Đánh giá của nhóm:

Tinh thần, thái độ;

Sự tương tác với bạn bè;

Thời gian và chất lượng hoàn thành hoạt động học;

Kết quả các hoạt động học tập.

d/ Cộng đồng đánh giá:

Có thường xuyên trò chuyện với cha mẹ việc học ở trường;

                   Có thực hiện chăm sóc cây cối, vật nuôi, sức khỏe bản thân và người thân trong gia đình;

Sự tự tin trong trao đổi, trò chuyện, giao tiếp;

Khả năng diễn đạt, đối thoại, tương tác;

Sự chuyên cần trong học tập, tiến bộ trong học tập.

e/ Công cụ đánh giá:

Sự quan sát, theo dõi;

Phiếu đánh giá tiến độ học tập;

Bản tổng hợp ý kiến đánh giá của giáo viên, học sinh, nhóm, cha mẹ học sinh và cộng đồng.

 

CẤU TRÚC BÀI HỌC MÔ HÌNH VNEN

1 – Cấu trúc bài học mô hình VNEN:

Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Như vậy nội dung, yêu cầu và thời lượng học các môn không thay đổi.

Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, cũng cố, vận dụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế.

Mô hình VNEN biên soạn SGK (Toán,Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí) thành Hướng dẫn học  (Toán,Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí) cho học sinh.

Như vậy Hướng dẫn học Toán ,Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí là tài liệu học của học sinh và tài liệu dạy của giáo viên.

Thông thường, một bài học Toán, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí học trong hai tiết, bài học môn Tiếng Việt học trong ba tiết, các bài kiểm tra bố trí một tiết; với bài học bố trí hai tiết, hết tiết một là hết hoạt động cơ bản và đã đáp ứng cơ bản mục tiêu của bài học. Tuy nhiên không bắt buộc mọi tiết học mọi giáo viên phải thực hiện máy móc điều này. Giáo viên có toàn bộ quyền bố trí thời gian để học sinh đạt được mục tiêu bài học, nắm được bài.

Mỗi bài học được thiết kế khoảng từ 12 đến 15 hoạt động với các nội dung chính sau:

-Mục tiêu bài học;

-Hoạt động cơ bản;

-Hoạt động thực hành;

-Hoạt động ứng dụng.

(Minh họa ở trang 54 TL Toán 3)

Phần hoạt động cơ bản giúp HS học qua trải nghiệm, học qua việc làm thực tế, học qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp với GV.

Phần hoạt động thực hành thể hiện các hoạt thực hành của HS nhằm củng cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học.

Phần hoạt động ứng dụng khuyến khích HS bước đầu biết vận dụng kiến thức trong thực tế cuộc sống. Nhấn mạnh sự quan tâm, hỗ trợ HS học tập từ phía gia đình và cộng đồng. Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác nhau ( từ gia đình, cộng đồng thôn xóm, làng bản, …).

Bắt dầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (lô gô) cùng với những “Lệnh” thực hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập ( học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp). (Cụ thể ở trang đầu của TLHD các môn)

Trong thiết kế bài học, trước mỗi hoạt động đều có các lô gô chỉ dẫn. HS nhìn lô gô biết hoạt động đó thực hiện cá nhân, hay nhóm đôi, nhóm lớn hoặc chung cả lớp.

Giáo viên nên hiểu lô gô hướng dẫn chỉ có tác dụng định hướng cho các nhóm HS hoạt động, không máy móc mà có thể điều chỉnh để hoạt động học của học sinh đạt hiệu quả.

Lô gô làm việc cá nhân hiểu là cá nhân làm việc là chính. Nhưng khi làm xong có thể đổi vở cho bạn để kiểm tra bài làm của nhau, hoặc báo cáo với nhóm kết quả mình đã làm được.

Lô gô làm việc nhóm chủ yếu nhắc nhở HS hoạt động theo nhóm có sự tương tác trong nhóm để cùng giải quyết môt nhiệm vụ học tập nào đó. Có lô gô hoạt động nhóm, thì mỗi học sinh vẫn phải suy nghĩ, phải làm việc cá nhân, nhóm không làm thay, học thay cá nhân. Như vậy rất cần sự điều chỉnh linh hoạt của giáo viên để hoạt động học diễn ra tự nhiên, hiêu quả.

 

QUY TRÌNH 5 BƯỚC

1. Gợi động cơ, tạo hứng thú (bước khởi động)

- Kết quả cần đạt:

+ Kích thích tính tò mò, khơi dạy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình.

+ Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú.

- Cách làm: đặt câu hỏi; đố vui; kể chuyện; đặt một tình huống; tổ chức trò chơi . . . Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS. (VD minh họa: trang 54 TL môn Toán)

2. Tổ chức cho HS trải nghiệm:

- Kết quả cần đạt:

+ Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiện có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới.

+ HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới.

- Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với HS. Nếu là tình huống diễn tả bằng lời văn thì câu văn phải đơn giản, gần gũi với HS. Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân từng HS. (VD minh họa: trang 30 và 54 TL môn Toán)

3. Phân tích – Khám phá – Rút ra kiến thức mới

- Kết quả cần đạt:

+ Huy động vốn hiểu biêt, khái niệm hay quy tắc lý thuyết, thực hành mới.

+ Nếu là một dạng toán mới thì HS phải nhận biết được dấu hiệu, đặc điểm và nêu được các bước giải dạng toán này.

- Cách làm:

+ Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học.

Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích tính tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá, phát hiện của HS . . . Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp Hsđi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả.

4. Thực hành:

- Kết quả cần đạt:

+ HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng dạng cơ bản theo đúng quy trình.

+ HS biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình giải bài toán dạng cơ bản.

- Cách làm:

+ Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản (đối với môn Toán). GV quan sát, giúp HS nhận ra những khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện.

+ Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của HS; GV tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên.

+ Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS.

5. Vận dụng

- Kết quả cần đạt:

+ HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.

+HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày.

+ Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới.

- Cách làm:

+ HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học.

+ GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, ngôn ngữ tiếng Việt. . . Từ đó khắc sâu kiến thức đã học.

+ Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em. Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lý lẽ, có lập luận.

 

MƯỜI BƯỚC HỌC TẬP CỦA VNEN

Mọi ý tưởng canh tân hay đổi mới PPDH suy cho cùng đều là tìm cách chuyển quá trình thuyết trình quá trình thuyết trình một cách áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá của người học. Trong đó, sự trải nghiệm và tự kiến tạo kiến thức cho bản thân của người học có vai trò hàng đầu. Những nổ lực cá nhân của HS là trung tâm của quá trình giáo dục. Người học phải tự tạo dựng sự hiểu biết của riêng mình là chủ yếu chứ không chỉ đơn giản là tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài. Người GV phải biết khéo léo đặt vấn đề và tổ chức môi trường sư phạm cho HS tựu tìm tòi, khám phá, phát hiện, trong đó coi trọng việc học hợp tác,làm việc theo nhóm để giải quyết vấn đề.

      Để tổ chức cho học sinh học tập, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện đúng quy trình 10 bước lên lớp của mô hình VNEN:

1. Em học tập theo nhóm;

2. Em ghi đầu bài vào vở;

3. Em đọc mục tiêu bài học;

4. Em bắt đầu thực hiện hoạt động cơ bản;

5. Kết thúc hoạt động cơ bản, em báo cáo với thầy cô giáo;

6. Em bắt đầu hoạt động thực hành:   

           - Em bắt đầu bằng hoạt động cá nhân,

           - Em chia sẻ với bạn bên cạnh,

           - Em trao đổi kết quả với các bạn trong nhóm, kiểm tra sửa lỗi cho nhau;           

          7. Em bắt đầu hoạt động ứng dụng;

          8.  Em đánh giá cùng với thầy cô giáo;

          9.  Em tự đánh giá vào bảng đo tiến độ;

10. Em đã hoàn thành bài học hay còn phải học lại phần nào.

      (VD minh họa: trang 40 TL Toán 3).

 

ĐỊNH HƯỚNG VỀ VẬN DỤNG MÔ HÌNH VNEN

I. ĐỊNH HƯỚNG CHUNG

           1. Học tập, vận dụng về :

          - PPGD ở các môn học Toán, Tiếng Việt, TNXH, các hoạt động giáo dục (đạo đức, âm nhạc, mĩ thuật, thủ công, thể chất, hoạt động theo chủ đề).

          - Hình thức tổ chức lớp học (cá nhân, nhóm, cả lớp).

- Quy trình, cấu trúc 5 bước của mô hình VNEN: Gợi động cơ, tạo hứng thú học tập cho HS - Trải nghiệm - Phân tích, khám phá, rút ra bài học -  Thực hành – Vận dụng.

- Vai trò và cách thức học tập của HS:

Tự giác, tự quản;

Tự học, tự đánh giá;

Tự tin, tự trọng.

- 10 bước học tập của HS (theo tài liệu HD).

Môi trường học tập (lớp học): tùy điều kiện thực tế để vận dụng cho phù hợp. Cố gắng xây dựng tủ,  kệ đựng sách, tài liệu, đồ dùng học tập ngay tại lớp học, việc trang trí lớp . . .

Cách thức tự nhận xét, đánh giá của HS và cách nhận xét, ĐG của GV.

Về phạm vi tổ chức vận dụng ở các khối lớp: tập trung ở khối lớp 2 và 3 (do có tài liệu hướng dẫn) và có thể mở rộng PPGD ở các khối lớp khác.

2. CỤ THỂ:

- Học tập, vận dụng các phương pháp đặc trưng của môn Tiếng Việt,Toán,TN-XH.

VD:

+ Đối với môn Tập đọc:

PP tổ chức các hoạt động học đọc thành tiếng.

PP tổ chức các hoạt động học đọc thầm

PP tổ chức các hoạt động học đọc – hiểu

+ Với môn chính tả: nghe-viết, nhớ viết, chính tả âm vần

+ Với TLV: dạy học viết đoạn văn, viết văn bản ...

+ Dạy học kỹ năng nghe-nói

+ PP dạy học kiến thức tiếng Việt (Luyện từ và câu)

VD minh họa: TL môn Tiếng Việt

+ Với môn Toán: (minh họa trang SGK của HS ở trang 54 TL Toán 3)

- Về số học:

Cách hình thành số, đếm, đọc, viết số; So sánh các số.

Dạy phép cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia

Làm quen với biểu thức, cách tính giá trị biểu thức; Thống kê số liệu

Cách dạy các đại lượng và đo đại lượng

Dạy các yếu tố hình học

Dạy giải bài toán có lời văn

+ Và  với TN-XH và các hoạt động giáo dục khác.

Tất cả những nội dung trên được hướng dẫn cách tổ chức thực hiện rất cụ thể, dễ hiểu, (có kèm bài dạy, thao tác minh họa ) trong từng quyển tài liệu theo từng môn.

3. CÁCH THỨC ÁP DỤNG, TRIỂN KHAI ViỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH VNEN:

- Tổ chức nghiên cứu kỹ nội dung các tài liệu.

- Tổ chức các buổi hội thảo bàn về việc đổi mới PPGD theo VNEN (tổ chức từng môn, phân môn, cụ thể đến từng phương pháp đăc trưng ở từng môn, phân môn, kiểu bài, loại kiến thức . . .)

Lưu ý: tránh không tổ chức qua loa, chiếu lệ sẽ không thu được kết quả nào.

- Xây dựng các tiết dạy cụ thể có vận dụng PPGD của VNEN ở các môn học (lớp 2 và 3. Tiến đến triển khai áp dụng đại trà ở tất cả các khối lớp.

Tác giả bài viết: TXT 
Nguồn tin: Internet

1-9 of 9