Chuyên Môn‎ > ‎

Học VNEN, học sinh phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ

đăng 20:31, 30 thg 7, 2015 bởi Trường trung học cơ sở Lương Khánh Thiện   [ đã cập nhật 20:41, 30 thg 7, 2015 ]
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì ngành giáo dục không ngừng được đổi mới và lần đổi mới này đã tìm ra một mô hình trường học mới tại Việt Nam – gọi tắt là VNEN. Theo tôi nghĩ đây là bước tiến quan trọng trong cải cách giáo dục mà dự án đã mang lại. Vì đó là kiểu mô hình nhà trường hiện đại, tiên tiến và phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm giáo dục Việt Nam. Chính mô hình VNEN đã mang lại cơ hội to lớn để từng học sinh tự nhận ra khả năng của chính mình. Và hơn nữa mô hình này đã được xây dựng theo một chương trình hoàn chỉnh dựa trên triết lí: “ Mỗi đứa trẻ đều có thể học và phải học, mọi đứa trẻ đều đặc biệt và loài người chúng ta được sinh ra để học hỏi, để làm cho mọi thứ thứ có ý nghĩa”.
. Chất lượng dạy và học theo mô hình VNEN.

Phải nói rằng chất lượng DH và GD rất đáng yên tâm, không hề thua giảng dạy theo dạy học truyền thống: Đã có sự chuyển đổi rõ rệt về vai trò của giáo viên so với dạy học truyền thống. Trong mô hình VNEN, giáo viên là người tổ chức lớp học; quan sát hoạt động của mỗi cá nhân, của mỗi nhóm; hỗ trợ học sinh khi cần thiết; chốt lại những điều cơ bản nhất của bài học; đánh giá quá trình và kết quả học của học sinh.

 Từ đặc thù nêu trên, hoạt động của giáo viên đã thay đổi căn bản. Việc chính của giáo viên là tổ chức lớp học thành các nhóm và theo dõi, hướng dẫn hoạt động của mỗi học sinh ở nhóm học tập.

- Trong mô hình VNEN, nhóm là đơn vị học tập cơ bản.

- Nhóm trưởng điều hành các thành viên trong nhóm: tự giác, tích cực hoạt động, tự quản, tự học, tự tìm tòi, khám phá phát hiện kiến thức theo hướng dẫn của sách. Mọi thành viên trong nhóm tự nghiên cứu tài liệu, tự học, chia sẻ với bạn, báo cáo với nhóm kết quả học tập. Các thành viên trong nhóm trao đổi, thống nhất và báo cáo kết quả học tập với giáo viên.

- Tuy giáo viên không phải soạn bài nhưng phải nghiên cứu kĩ bài học, hiểu rõ quá trình hình thành kiến thức để tổ chức lớp học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, điều chỉnh nội dung, yêu cầu bài học cho phù hợp với đối tượng và dự kiến các tình huống khó khăn mà học sinh dễ mắc phải trong quá trình hình thành kiến thức để có những giải pháp hợp lí, kịp thời. Phát hiện những học sinh chưa tích cực, học sinh gặp khó khăn trong quá trình học; kiểm tra, hỗ trợ kịp thời những học sinh yếu để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ học tập. Chốt lại những vấn đề cơ bản của bài học. Đánh giá hoạt động học của các cá nhân, các nhóm và cả lớp. Tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi nhóm tự đánh giá tiến trình học tập của mình.

Học sinh được phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ trong nhóm. Học sinh được rèn luyện cách học, cách tư duy. Học sinh được tự học, hoạt động, trải nghiệm hợp tác từ đó có được năng lực mới (Kiến thức, kĩ năng, các phẩm chất, yếu tố khác của năng lực). Giáo viên chỉ tư vấn, hỗ trợ, tổ chức quá trình tự học của HS. Lối học này tạo điều kiện đẩy mạnh đổi mới PPDH và các hình thức dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực chủ động, khả năng tự học của học sinh. Tăng khả năng thực hành, vận dụng, chú ý tính tích hợp vơí hoạt động phát triển ngôn ngữ của học sinh, thông qua các hoạt động học tập. Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của học sinh trong đời sống hàng ngày. Gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của học sinh, của cộng đồng thông qua hoạt động ứng dụng của mỗi học sinh và khuyến khích HS tính tích lũy kiến thức, kinh nghiệm qua mọi kênh thông tin.

Khi dạy học mô hình mới VNEN GV luôn nhận thức đúng và tâm huyết. Giáo viên luôn đảm bảo 5 bước dạy học theo VNEN, HS luôn ghi nhớ và nhuần nhuyễn với 10 bước học tập và tự giác tích cực trong học tập. HS được tương tác với bạn trong nhóm, được tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn.

2. Cấu trúc bài học mô hình VNEN:

Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Như vậy nội dung, yêu cầu và thời lượng học các môn không thay đổi. Các môn học được tích hợp và giúp hỗ trợ nhau trong việc GD học sinh, việc các môn học được chuyển thành hoạt động GD đã làm giảm bớt gánh nặng trong học tập cho các em.

Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, củng cố, vận dụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế.

Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (lô gô) cùng với những “lệnh” thực hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập ( học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp). Thiết kế của tài liệu rất tiện cho GV và HS trong hoạt dộng dạy và học. Đa số kênh hình và kênh chữ rõ ràng giúp HS dễ hiểu, giúp HS tiếp cận bài một cách dễ dàng.

3. Đổi mới về đánh giá học sinh: Đánh giá được tiến hành như sau:

- Đánh giá thường xuyên được tiến hành theo tiến trình bài học và các hoạt động giáo dục hàng ngày bằng hình thức nhận xét.

- Đối tượng tham gia đánh giá kết quả học tập của mỗi học sinh gồm: học sinh tự đánh giá, bạn đánh giá, phụ huynh đánh giá, GV đánh giá.

Thực hiện chương trình VNEN mở ra cơ hội để sự phối hợp nhà trường với các đoàn thể, giữa giáo viên với phụ huynh và cộng đồng xã hội chặt chẽ hơn. Phụ huynh trực tiếp tham gia GD con em mình, trực tiếp tham gia đánh giá con em mình thông qua việc thực hành kĩ năng của con em. Nhà trường thường xuyên liên lạc, phối hợp với phụ huynh và các tổ chức xã hội, vấn đề XHH giáo dục tiến hành rất tốt.

Tất cả các hình thức đánh giá trên đều nhằm mục đích góp phần thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình GDTH, tạo điều kiện giúp giáo viên đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động GDTH, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Khuyến khích HS học tập tích cực, hình thành năng lực tự học, hợp tác, vận dụng kiến thức vào cuộc sống; phát huy sự năng động sáng tạo…Động viên sự tiến bộ của học sinh, và để điều chỉnh quá trình dạy học.

- Động viên HS là chính, giúp HS tự tin, hứng thú, tiến bộ trong học tập;

- Đánh giá cả quá trình học tập, không chỉ đánh giá KQHT; Đánh giá Năng lực;

- Tự đánh giá là chính (bản thân, nhóm, tổ);

- GV đánh giá thường xuyên qua theo dõi, hướng dẫn trong quá trình; kiểm tra kết quả; ĐG quá trình, ĐG năng lực, sự phát triển. 

4. Kết quả sau thời gian thực hiện dạy học theo chương trình VNEN:

Thuận lợi:

- Tài liệu hướng học được xây dựng dưới dạng 3 trong 1 ( nghĩa là dung chung cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh).

- Tài liệu có kênh hình, kênh chữ rõ ràng và các lô gô chỉ dẫn, các câu lệnh thì ngắn gọn, dễ hiểu và thống nhất nhằm giúp học sinh tự đọc, tự học thuận tiện và làm đúng theo mục tiêu bài học.

- Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Với phương pháp dạy học mới còn giúp cho các em phát huy tốt các kỹ năng: như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học, ngoài ra giúp các em hiểu biết nhiều hơn, có trách nhiệm và biết phấn đấu làm chủ quá trình học tập của mình.

- Còn đối với giáo viên thì giúp cho thầy cô có nghiệp vụ sư phạm được nâng cao hơn và có kỹ năng điều hành các hoạt động dạy học.

- Đối với cha mẹ học sinh và cộng đồng thì có liên quan trực tiếp, có trách nhiệm tham gia với nhiều hoạt động và hỗ trợ nhà trường nhiều hơn. Đồng thời cha mẹ học sinh còn được tiếp nhận, bổ sung tri thức từ nhà trường thông qua học sinh.

Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi mà chương trình đã mang lại thì cũng còn rất nhiều khó khăn cần phải được tháo gỡ như:
- Vì đây là chương trình thử nghiệm nên còn thiếu tài liệu cho học sinh học ( như sách hoạt động giáo dục) và vẫn còn một số chỗ chưa hợp lý.
- Học sinh thuộc vùng địa bàn là nông thôn nên khả năng giao tiếp vẫn còn hạn chế. 
- Việc trang trí lớp học, đồ dùng học tập theo mô hình này cũng đòi hỏi nhà trường phải đầu tư kinh phí nhiều hơn so với các lớp học bình thường.
- Việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thống sang phương pháp học tập tích cực một cách đột ngột, nên không khỏi gây cho giáo viên, học sinh và phụ huynh tâm lý hoang mang, sợ học sinh không tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng 
học sinh trung bình, yếu.

- Việc học theo nhóm nên đó là điều kiện tạo cho 1 bộ phận nhỏ học sinh có cơ hội nói chuyện riêng và còn ỷ lại vào những bạn khá, giỏi.

Trên đây là một số băn khoăn, suy nghĩ của riêng cá nhân tôi khi tiếp cận với chương trình dạy học mới, cái mới ra đời thì tất nhiên sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn và thách thức, rất mong quý thầy cô giáo, ban lãnh đạo nhà trường, các bậc phụ huynh và toàn bộ các cấp, các ngành cùng nhau chung tay và quyết tâm thực hiện thành công dự án để góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong tình hình mới.
                               Tôi xin chân thành cảm ơn./.

.

Ngày 30/07/2015
Nguyễn Thị Hạnh
Đơn vị: Trường tiểu học Châu Hạnh I Huyện Quỳ Châu - Tỉnh Nghệ An
Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hạnh 
Nguồn tin: tieuhoc.moet.gov.vn
Comments